Khi người lính trở về…

07/24/2019 15:40 View count: 681
Con phà băng băng lướt trên dòng Như Nguyệt đưa khách sang sông, bỏ lại phía sau những bọt nước li ti trắng xóa. Ông lão chủ phà người thấp đậm, vỏn vẹn có 1 cánh tay, luôn miệng nhắc khách mặc áo phao. Ông bảo: “Gần 40 năm trong nghề chưa bao giờ để xảy ra sơ xuất, thật vui khi nhiều người nhận xét đây là một trong số ít bến phà văn minh, lịch sự”. Ông là thương binh hạng 1/4 Bùi Minh Hợi (SN 1947, trú tại thôn Đoàn Kết, xã Phù Lãng, Quế Võ) - người trở về sau cuộc chiến khốc liệt 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị với thương tật 81%.

Thương binh Bùi Minh Hợi ân cần nhắc khách đi phà mặc áo phao để bảo đảm an toàn.

 

Dọc ngang sông nước

6 giờ sáng một ngày tháng 7, tại bến phà thôn Đoàn Kết (xã Phù Lãng, Quế Võ), người lao động hai bên bờ Yên Dũng (Bắc Giang) và Phù Lãng (Bắc Ninh) đứng thành từng tốp chờ phà. Gần 40 năm qua, họ đã quen với những chuyến phà nối đôi bờ của ông thương binh 1 tay nhưng nhiệt tình, vui tính. Phà cập bến, tiếng âm thanh động cơ rộn rã, tiếng sóng nước dội vào thân phà làm náo động một khúc sông quê. Dù không còn trực tiếp cầm lái như vài năm trước nhưng ông Bùi Minh Hợi vẫn theo sát từng chuyến phà, nhắc nhở mọi người di chuyển lên xuống trật tự và không quên mặc áo phao để bảo đảm an toàn. Ông có thể nhớ mặt, thuộc tên từng vị khách quen hàng ngày và họ cũng dành cho ông một tình cảm thân thuộc đặc biệt.

Hai chị em cô công nhân Minh Thúy, Minh Thùy hầu như ngày nào cũng đón phà từ Yên Dũng (Bắc Giang) qua Phù Lãng để đi làm ở KCN Quế Võ. Chị Thúy tâm sự: “Phà Đoàn Kết là lựa chọn hàng đầu của chúng tôi bởi vừa tiết kiệm chi phí xăng xe, vừa tiết kiệm thời gian đi lại. Đặc biệt là với bác Hợi thì ai cũng quý mến bởi không chỉ luôn bảo đảm phà chạy an toàn, đúng giờ mà còn nhiệt tình giúp đỡ hành khách. Mỗi lần lên phà bác đều dặn dò chu đáo, trẻ con, người lớn thì đứng ở đâu, xe cộ ở chỗ nào cho ngay ngắn… Sáng sớm hay chiều muộn về đến bến sông thấy dáng hình, nghe giọng nói sang sảng của bác là biết sắp về tới nhà”.

Còn nhớ cách đây gần 40 năm, khi vừa xuất ngũ trở về quê hương với thân thể không còn nguyên vẹn, kinh tế gia đình hết sức khó khăn, thương binh Bùi Minh Hợi mạnh dạn xin đấu thầu mở bến đò ngang chở khách qua sông. Được sự tạo điều kiện của chính quyền địa phương và ủng hộ của gia đình, ông “khởi nghiệp” với một con đò thô sơ. Do thân thể không còn nguyên vẹn nên những ngày đầu cả 2 vợ chồng phải hợp lực chèo tay chở khách sang sông. “Lúc ấy bản thân luôn khắc ghi lời Bác dạy: “Thương binh tàn nhưng không phế”, dù ở bất kỳ môi trường nào cũng phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, phẩm chất bộ độ Cụ Hồ; vì vậy vượt lên tất cả những tật nguyền, khiếm khuyết cơ thể, tôi cùng gia đình quyết tâm làm kinh tế xóa đói, giảm nghèo”, thương binh hạng 1/4 Bùi Minh Hợi tâm sự.

Dãi dầu mưa nắng nắm vững mái chèo để kết nối đôi bờ Như Nguyệt, ông thông thạo từng khúc sông, từng dòng nước xoáy. Mỗi khi đến mùa mưa lũ, dòng nước càng dâng cao, chảy xiết, ông Hợi lại càng phải thận trọng hơn trong mỗi chuyến sang sông, trong cách dìu đò theo con nước lũ, phục vụ nhân dân sớm tối đi lại, học hành. Có những đêm ông giật mình thức giấc vì có điện thoại. Nghe xong lại vội vàng đưa đò sang sông chở người đi cấp cứu. Những lúc ấy, ông Hợi không thể chậm trễ bởi ông bảo không thể đùa với mạng người, nhanh phút nào là quý phút đấy…

Vừa làm vừa tích lũy, dần dà ông đầu tư thuyền máy để tăng năng suất vận tải, giảm sức lao động, đi kèm là các thiết bị bảo đảm an toàn cho hành khách. Bến phà hoạt động ngày càng hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân đôi bờ. Một người con trai của ông Hợi cũng thích nghề “dọc ngang sông nước” nên tiếp bước lên thuyền.

Thương binh kiểu mẫu

Năm 2002, ông đứng ra vay vốn đóng mới, nâng cấp từ thuyền lên thành phà, mở bến dịch vụ vận tải đưa đón khách và hàng hóa qua sông, được các đơn vị chức năng cấp giấy phép hoạt động theo quy định. Ngoài các thành viên trong gia đình, ông còn tạo điều kiện cho một số con em thương binh, liệt sĩ tham gia vào công việc vận tải, phục vụ khách hàng với mức thu nhập ổn định, góp phần ổn định cuộc sống.

Ở độ tuổi ngoài 70, lẽ ra ông Hợi đã có thể nghỉ ngơi an hưởng tuổi già, nhưng ông vẫn lấy công việc làm niềm vui. Chưa lúc nào ông buông lơi việc quản lý bến bãi. Thấy chồng “tham công tiếc việc”, vợ ông Hợi trầm ngâm: “Vợ chồng tôi có 3 người con đều đã trưởng thành, trong đó 2 con đều là cán bộ, viên chức còn 1 cháu nối nghiệp cha làm vận tải. Cuộc sống gia đình khá ổn định, tôi bảo ông ấy thôi nhưng ông nhất định làm. Ông ấy bảo đưa phà tạo niềm vui, hơn nữa phải sâu sát quản lý bến bãi không để xảy ra sự cố vì đó còn là uy tín gần 40 năm làm nghề…”. Thời gian gần đây, khi cây cầu nối Quế Võ và Yên Dũng đã hoàn thành, lượng khách tuy có sụt giảm so với trước, song ông Hợi không buồn. Ông bảo: Đất nước phát triển thì những chuyến phà, con đò sẽ lui dần bởi có nhiều cây cầu thay thế. Nhưng tôi vẫn sẽ bám trụ với nghề, cho tới khi không còn ai có nhu cầu đi phà qua đoạn sông này nữa…

Chiến thắng thương tật, vươn lên làm giàu cho gia đình và tạo việc làm cho lao động nông thôn, ông Hợi được nhận nhiều Bằng khen của các Bộ, ngành, của tỉnh Bắc Ninh và vinh dự được tặng danh hiệu Thương binh kiểu mẫu. “Xưa ở chiến trường đã góp phần đánh thắng kẻ thù, nay trở về đời thường cũng phải vượt lên tật nguyền để chiến thắng đói nghèo, xứng đáng phẩm chất bộ đội Cụ Hồ. Giờ còn làm được việc gì giúp ích cho xã hội thì tôi vẫn sẽ làm hết mình”, ông Hợi tâm sự.

Bến phà đầy nắng, bóng dáng người thương binh già vẫn hàng ngày cần mẫn với công việc chở khách qua sông. Vội vã qua lại trên mỗi chuyến phà, mọi người nói với ông đủ thứ chuyện. Có lẽ năm tháng qua đi, dòng đời tấp nập, nhiều người đã thân thuộc đến mức quên mất tuổi tác của ông lái đò, và với ông Hợi, thời gian cũng như ngưng lại trên bến sông quê với những thanh âm vồn vã, những chuyện buồn, vui sẻ chia cùng mọi người trong một ngày. Động lực để ông tiếp tục làm việc đôi khi chỉ giản đơn như vậy...

Ghi chép của Thương Huyền – Việt Anh